You are here

Căn cứ để xác định thời điểm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

Phá sản là một hiện tượng tất yếu trong nền kinh tế thị trường khi tham gia hoạt động kinh doanh. Vậy một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản được xác định như thế nào?

1. Khái quát về phá sản

Theo quy định pháp luật phá sản thì phá sản là tình trạng mà doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và bị Tòa án ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp đó phá sản.
Bản chất của phá sản không phải là việc chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp, không mang tính tiêu cực mà mục tiêu của phá sản là hướng đến việc phục hồi những doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Khi chủ thể có quyền yêu cầu mở thủ tục phá sản thì không phải hướng đến việc cho doanh nghiệp chấm dứt hoạt động mà hướng đến cứu vãn doanh nghiệp đó và trả được nợ cho các chủ nợ, người lao động.
Hơn nữa, phá sản còn là thủ tục thanh toán nợ, đòi nợ đặc biệt thông qua cơ quan trung gian là Tòa án - cơ quan quyền lực nhà nước dựa trên số tài sản còn lại của doanh nghiệp.
Thẩm quyền giải quyết thủ tục phá sản thuộc về Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án nhân dân cấp huyện.
Khi mở thủ tục phá sản thì một trong các điều kiện để Tòa án thụ lý đơn yêu cầu có là người đó phải có quyền hoặc nghĩa vụ yêu cầu, bao gồm:
- Chủ nợ.
- Người lao động, đại diện của người lao động (công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên).
- Người đại diện theo pháp luật của chính doanh nghiệp đó.
- Chủ sở hữu doanh nghiệp đó.
- Nhóm cổ đông hoặc cá nhân cổ đông sở hữu trên 20% số cổ phần phổ thông trở lên trong công ty cổ phần, dưới 20% nếu Điều lệ có quy định.
Chỉ khi những chủ thể này nộp đơn đến Tòa án thì Tòa án xem xét tình trạng của doanh nghiệp để thụ lý và giải quyết.

2. Căn cứ xác định thời điểm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

Không phải lúc nào thì chủ thể có quyền, nghĩa vụ nộp đơn cũng có thể nộp đơn yêu cầu Tòa án mở thủ tục phá sản mà doanh nghiệp phải lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Nếu không mất khả năng thanh toán thì các chủ nợ thì có thể nộp đơn khởi kiện đến Tòa án đòi lại số tiền mà doanh nghiệp đã nợ chứ không được nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.
Thuật ngữ “lâm vào tình trạng phá sản” là thuật ngữ dùng trong Luật Phá sản năm 2004. Hiện nay, các nhà làm luật không sử dụng thuật ngữ đấy nữa, thay vào đó là thuật ngữ “mất khả năng thanh toán”. Điều này có thể hiểu thuật ngữ mới bao hàm nghĩa rộng hơn.
Theo quy định pháp luật phá sản hiện hành thì căn cứ xác định doanh nghiệp mất khả năng thanh toán bao gồm:
- Doanh nghiệp không tiến hành thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của mình.
- Thời hạn không tiến hành nghĩa vụ tài chính là 03 tháng từ ngày đến hạn phải thanh toán.
Tuy nhiên, theo quy định đó thì pháp luật vẫn chưa chỉ ra rằng mất khả năng thanh toán một khoản nợ bao nhiêu để bị coi là mất khả năng thanh toán và thời hạn không thực hiện nghĩa vụ trong vòng 03 tháng có thể coi là một thời hạn quá ngắn để thu xếp thanh toán các khoản nợ đó vì trên thực tế có những khoản nợ khá phức tạp và cần thời gian dài hơn để thực hiện nghĩa vụ.
Pháp luật phá sản hiện hành bên cạnh việc mở rộng nghĩa của thuật ngữ thì việc không xác định được cụ thể mức nợ để xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản vẫn còn là bất cập trong hoạt động lập pháp hiện nay. Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này, liên hệ ngay đến tổng đài tư vấn pháp luật 1900.6199 để được tư vấn và hỗ trợ miễn phí.

Facebook comments