You are here

Giành quyền nuôi con khi chồng ngoại tình

Tôi và chồng tôi kết hôn được 5 năm và có hai đứa con, một cháu hơn 03 tuổi và một cháu hơn 01 tuổi. Hiện nay tôi và chồng đã ly thân, tôi sống ở nhà bố mẹ đẻ cùng 2 đứa con, chồng tôi sống 1 mình ở căn nhà trước kia của vợ chông tôi, nhưng tôi đã phát hiện chồng tôi đưa một người phụ nữ khác về nhà sống chung. Vậy, luật sư cho tôi hỏi, khi tôi ly hôn với chồng thì làm thế nào để giành quyền nuôi cả hai con? Chồng tôi có bị coi là ngoại tình không? Xin cảm ơn.

TRẢ LỜI
Căn cứ pháp lý
- Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
- Bộ luật hình sự 2015;
- Nghị định 110/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.
Nội dung tư vấn
Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến Công ty dịch vụ tư vấn Việt Luật. Vấn đề của bạn về giành quyền nuôi con chúng tôi xin đưa ra quan điểm để giải đáp cho bạn như sau:
tong-dai-mien-phi-19006199

1. Giành quyền nuôi con khi chồng ngoại tình

Căn cứ vào quy định Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cái sau khi ly hôn được như sau:

- Con dưới 36 tháng tuổi thì quyền trực tiếp nuôi con khi ly hôn được ưu tiên hơn cho người mẹ nuôi nếu người mẹ có đủ điều kiện chăm nom, chăm sóc và giáo dục con cái. 

- Con trên 7 tuổi, phải hỏi ý kiến của con, có ý nghĩa rất quan trọng, tuy nhiên nếu người con chọn không có đủ điều kiện tối thiểu để nuôi con thì con sẽ được giao cho người có đầy đủ điều kiện hơn để nuôi con.

- Con 18 tuổi không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng vì đã là người thành niên, tùy vào việc con lựa chọn sống cùng ai. Nếu con mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự: cha mẹ, người giám hộ do thỏa thuận hay chỉ định việc nuôi con.

Do đó, người con thứ hai chỉ mới hơn 01 tuổi (dưới 36 tháng tuổi) sẽ được giao cho người mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, trừ trường hợp bạn và chồng bạn có thỏa thuận khác. Còn người con thứ hai đã hơn 03 tuổi, căn cứ để tòa án quyết định con ở với bố hay với mẹ là căn cứ các điều kiện vật chất và điều kiện tinh thần. Để giành được quyền nuôi hai người con, bạn cần chứng minh ưu thế vượt trội về các điều kiện trên so với chồng. Thông thường tòa án sẽ chia mỗi người nuôi một đứa con. Trường hợp nếu bạn được nuôi cả hai người con, chồng bạn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng sẽ theo nghị quyết hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao: Tiền cấp dưỡng nuôi con bao gồm những chi phí tối thiểu cho việc nuôi dưỡng và học hành của con và do các bên thỏa thuận. Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được thì tùy vào từng trường hợp cụ thể, vào khả năng của mỗi bên mà quyết định mức cấp dưỡng nuôi con cho hợp lý.
>>> Xem thêm: Giành quyền nuôi con khi vợ mang con khỏi nơi cư trú

2. Hành vi sống chung với người phụ nữ khác khi chưa ly hôn với vợ có bị coi là ngoại tình không?

Theo quy định pháp luật, việc người chồng chung sống với người khác như vậy được coi là hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng. Cụ thể là:

Theo quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, “người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ” là hành vi bị cấm. Do đó, chồng bạn chung sống với người phụ nữ khác khi hai vợ chồng bạn chưa ly hôn là hành vi vi phạm pháp luật.

Tùy theo tính chất, mức độ  hành vi vi phạm của người chồng và người phụ nữ kia trong thời gian hôn nhân vợ chồng hợp pháp mà họ có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật như sau:

Thứ nhất, xử lí vi phạm hành chính:

Cụ thể, Điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP quy định:

“a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ; 

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác; 

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;…”

"Chung sống như vợ chồng" có thể hiểu là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc này thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó…

Thứ hai, truy cứu trách nhiệm hình sự:

Hành vi ngoại tình có thể bị coi là “tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng” được quy định tại Điều 182 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 như sau:

 “1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.”

Theo đó, nếu hai vợ chồng bạn đi đến quyết định ly hôn thì sẽ thuộc vào căn cứ tại Khoản 1 Điều 182 và nguy cơ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc bạn nắm các chứng cứ những tin nhắn, hình ảnh, băng ghi âm, ghi hình cho thấy có dấu hiệu ngoại tình ngoài là căn cứ để tòa án giải quyết ly hôn còn là các chứng cứ để chồng bạn và người tình bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Trên đây là nội dung tư vấn của Việt Luật về vấn đề bạn yêu cầu. Nếu còn vướng mắc, chưa hiểu rõ hay cần sự hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua tổng đài tư vấn pháp luật qua điện thoại 19006199 hoặc gửi thông tin qua Email  để được hỗ trợ kịp thời!

Facebook comments