You are here

Hạn chế quyền của các thành viên hợp danh

Ngày nay loại hình công ty hợp danh là một trong những loại hình được nhiều doanh nghiệp lựa chọn để thành lập, đầu tư bởi rủi ro thấp và gây dựng được uy tín trong các hoạt động đầu tư kinh doanh. Bên cạnh những nghĩa vụ quyền hạn mà Luật Doanh nghiệp đã quy định, thành viên hợp danh bị hạn chế những quyền sau đây:

han-che-quyen-cua-cac-thanh-vien-cong-ty-hop-danh

1.Thế nào là công ty hợp danh?

Căn cứ tại Luật Doanh nghiệp tại Khoản 1- Điều 312 thì:
Công ty hợp danh là doanh nghiệp, theo  đó cần đáp ứng các yêu cầu sau:
- Có ít nhất 02 thành viên phải là chủ sở hữu chung của doanh nghiệp , họat động cùng kinh doanh dưới một tên gọi chung. Bên cạnh các thành viên hợp danh, công ty còn có thêm các thành viên góp vốn.
- Thành viên trong công ty hợp danh  là cá nhân, có nghĩa vụ chịu trách nhiệm bằng tất cả tài sản của mình về các nghĩa vụ đối với công ty.
- Các thành viên góp vốn chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong giới hạn  số vốn của mình đã góp.

2. Thành viên hợp danh bị hạn chế các quyền sau đây:

Bởi đặc điểm của các thành viên trong công ty hợp danh là phải chịu những trách nhiệm, rủi ro của công ty là vô hạn và liên đới giữa các thành viên với nhau nên theo quy định của pháp luật, thành viên hợp danh bị hạn chế bởi một số quy định mang tính ràng buộc như sau:
Căn cứ tại Điều 175- Luật Doanh nghiệp năm 2014 chỉ rõ:
- Thứ nhất, các thành viên của công ty hợp danh không được phép làm chủ sở hữu của doanh nghiệp tư nhân hoặc đồng thời là các thành viên của các công ty hợp danh khác. Trong trường hợp được đồng thời làm thành viên của các công ty hợp danh khác thì cần có sự tán thành của các thành viên  còn lại.
- Thứ hai, các thành viên trong công ty hợp danh không được phép nhân danh các cá nhân hoặc tiến hành nhân danh những người khác thực hiện các hoạt động kinh doanh cùng ngành, cùng lĩnh vực trùng với loại hình kinh doanh của doanh nghiệp. Mục đích là để trục lợi và phục vụ những lợi ích của những tổ chức, cá nhân khác.
- Cuối cùng, về phần chuyển nhượng một hoặc toàn bộ phần vốn của các thành viên hợp danh đã góp trong doanh nghiệp cho những người khác nếu không nhận được sự nhất trí của tất cả các thành viên hợp danh còn lại trong công ty hợp danh thì không được phép chuyển nhượng.
Sở dĩ Luật doanh nghiệp có những quy định như vậy, bởi xuất phát từ những lí do sau đây:
- Một là, do chế độ chịu trách nhiệm là thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình với những rủi ro, trách nhiệm của công ty.
- Hai là, trong trường hợp nếu tài sản của công ty không đủ để trang trải và thanh toán các số nợ của công ty thì các thành viên phải chịu trách nhiệm liên đới về các khoản nợ này.
Với loại hình doanh nghiệp tư nhân, chủ sở hữu của doanh nghiệp, theo quy định của pháp luật  phải chịu trách nhiệm vô hạn về các hoạt động, các nghĩa vụ tài sản với doanh nghiệp. Còn đối với các thành viên hợp danh, họ cũng phải chịu trách nhiệm vô hạn về các nghĩa vụ tài sản với công ty. Vì vậy, quyền và nghĩa vụ của những thành viên hợp danh có sự liên đới trực tiếp đối với nhau. Vì lí do trên nên Luật Doanh nghiệp quy định không cho phép một cá nhân được đồng thời làm thành viên hợp danh của hai công ty hợp danh khác nhau.
Việc chuyển nhượng một hoặc toàn bộ phần vốn góp cho các cá nhân và các tổ chức là không hợp lí bởi nó được thành lập dựa trên sự uy tín và mối quan hệ quen biết của những  người trong công ty.
Như vậy, theo quy định của pháp luật thành viên hợp danh bị hạn chế một số quyền hạn nhất định, các thành viên cần phải tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật để đảm bảo sự phát triển bền vững  và tính kỉ luật của công ty. Hi vọng với bài viết trên quý khách hàng đã có sự hiểu biết và tổng quan vấn đề một cách sâu sắc nhất. Nếu cần sự tư vấn và giúp đỡ xin vui lòng liên hệ qua SĐT: 0965 999 345 bới dịch vụ thành lập công ty hợp danh trọn gói của chúng tôi

 

Facebook comments