You are here

KHIẾU NẠI VỀ NGÀY PHÉP NĂM SAU KHI CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

TÌNH HUỐNG :

 Thưa luật sư, Tôi hiện đang là người lao động có kí thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động . Nhưng tháng trước công ty đã họp và chấm dứt hợp đồng lao động với tôi. Vấn đề tôi gặp phải như sau: Đầu năm 2017, tôi có kí kết hợp đồng lao động xác định thời hạn với thời gian 36 tháng với Công ty sản xuất nhựa tổng hợp PVC. Trong thời gian làm việc tôi đã thực hiện các quy định vệ an toàn lao động, vệ sinh lao động cũng như các quy định đối với người lao động khi thực hiện công việc được giao. Tuy nhiên, tôi cảm thấy bức xúc khi công ty liên tục bắt người lao động tăng ca và có số giờ làm việc trong năm là 220 giờ lớn hơn với quy định của pháp luật và không phù hợp với điều khoản đã kí kết trong hợp đồng lao động. Chính vì vậy mà chúng tôi đã nhiều lần làm đơn gửi lên ban lãnh đạo công ty để Ban giám đốc xem xét điều chỉnh thời gian làm việc và nghỉ ngơi hợp lí cho người lao động cũng như đảm bảo các quyền lợi về sức khỏe, hỗ trợ các chi phí khác cho chúng tôi. Nhưng không nhận được sự phản hồi từ phía lãnh đạo công ty về vấn đề này. Bức xúc trước thái độ thờ ơ của người sử dụng lao động chúng tôi đã quyết định nghỉ việc ngay khi chưa kết thúc hợp đồng lao động với công ty. Tôi muốn hỏi là việc tôi chấm dứt hợp đồng lao động với công ty như vậy là đúng hay sai? VIệc tôi muốn khiếu nại ngày phép năm công ty là đúng hay sai? Tại sao? Tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi từ phía luật sư. Mọi thắc mắc của bạn xin liên hệ đến tổng đài tư vấn pháp luật miễn phí 1900 6199.

khieu-nai-ve-ngay-phep-nam-sau-khi-cham-dut-hop-dong-lao-dong

Trả lời khiếu nại về ngày phép năm sau khi chấm dứt hợp đồng lao động

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi những vấn đề mà bạn đang gặp phải cho chúng tôi. Dựa vào tình huống mà bạn gặp phải cúng như những quy định của pháp luật hiện hành luật sư của xin trả lời bạn như sau:

Thứ nhất, pháp luật quy định như thế nào về thời giờ làm việc trong năm của người lao động?

Theo Điểm b, c , Khoản 2, Điều 106 Bộ luật lao động năm 2012 quy định về làm thêm giờ như sau:

Làm thêm giờ là khoảng thời gian làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường được quy định trong pháp luật thỏa ước lao động tập thể hoặc theo nội quy lao động.
Người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm giờ khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

a, Được sự đồng ý của người lao động;

  b, Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm bình thường trong 01 ngày, trường hợp áp dụng quy định làm việc theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày; không quá 30 giờ trong 01 tháng và tổng số không quá 200 giờ trong một năm, trừ một số trường hợp đặc biệt do CHính phủ quy định thì được làm thêm giờ không quá 300 giờ trong 1 năm

c, Sau mỗi đợt làm thêm giờ nhiều ngày liên tục trong tháng, người sử dụng lao động phải bố trí để người lao động được nghỉ bù cho số thời gian đã không được nghỉ.

» Xem thêm: Tư vấn luật lao động

Như vậy trên cơ sở những gì bạn đưa ra thì theo quy định của Bộ luật lao động năm 2012 thì việc công ty bạn bắt nhân viên làm ăng ca 220 giờ/ năm và khong bố trí thời gian nghỉ ngơi cho người lao động sau mỗi đợt làm thêm giờ là trái với quy định của pháp luật

Thứ hai, Việc bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với công ty là đúng hay sai?

Theo Điều 37 Bộ luật lao động năm 2012 quy định người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động như sau:

Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a, Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b, Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động.

c, Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d, Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ, Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e, Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g, Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa phục hồi;

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Khoản 1, Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a, Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g Khoản 1 Điều này;

b, Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại Điển d và Điển Đ Khoản 1 ĐIều này;

c, Đối với trường hợp quy định tại Ddiemr e, Khoản 1 ĐIều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

Theo Điểm a, Khoản 1 Điều 37 Bộ luât lao động năm 2012 thì việc bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là đúng với quy định của pháp luật do người sử dụng lao động không bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động.

Thứ ba, bạn có trách nhiệm gì trong việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không?

Tuy nhiên , Theo Điểm b, Khoản 2 Điều 37 Bộ luật lao động năm 2012 thì bạn đã vi phạm quy định về thời hạn báo trước là 30 ngày cho người sử dụng lao động sau chấm dứt hợp đồng lao động. Do đó Theo Khoản 2 Điều 43 Bộ luật lao động năm 2012 thì bạn phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

Trên đây là những giải đáp của Luật sư sau khi nhận được câu hỏi của các bạn. Chúng tôi rất mong nhận được phản hòi của các bạn sau khi đọc nội dung bài tư vấn nếu có vướng mắc gì các bạn hãy gửi về cho chúng tôi qua tổng đài : 1900 6199 để được giai đáp thắc mắc.

Tổng đài tư vấn pháp luật miễn phí 1900 6199 rất vui được đón tiếp bạn.

Các bài viết khác:

» Tư vấn luật bảo hiểm xã hội

» Hướng dẫn rút bảo hiểm xã hội một lần

» Tư vấn bảo hiểm thất nghiệp

» Tư vấn bảo hiểm y tế

Facebook comments